Nếu thêm từ cho đủ thành phần ngữ, học sinh lại không đọc được, vì thời đoạn này, các em chưa được học vần am (trạm)
Ban biên tập trả lời: bản và mường đều là cách gọi những cộng đồng dân cư ở miền núi, rưa rứa xóm làng ở miền xuôi. Tác giả bài báo cho rằng phải viết hoa chữ mường. Ban biên tập có ý kiến trả lời: thời đoạn này học trò chưa được học vần “ôc” nên chưa thể đưa chữ ốc. Do phải buộc ràng vào quy ước trên, nhiều người có thể thấy không chỉ cuốn Tiếng Việt lớp 1 ngày nay mà những cuốn học vần của các tác giả trước đây cũng đưa vào những ngữ liệu khá ngô nghê.
Sách Tiếng Việt lớp 1, tập 1, NXB Giáo Dục, tháng 5-2012 có in bài thơ Con chim chiền chiện của Huy Cận. HCM ). Chúng tôi mong các bậc phụ huynh và độc giả chia sẻ khó khăn của những người soạn sách trong việc chọn ngữ liệu đưa vào sách học vần.
Tỉ dụ: thổi cơm, thổi xôi”. Những ngữ liệu hay nhưng không hợp quy ước sư phạm thì cũng không thể dùng. Bài học từ cuốn học vần của tác giả Nguyễn Thị Nhất, xuất bản năm 1981-1982 là một tỉ dụ tiêu biểu cho việc làm trái với quy ước sư phạm.
“Sạn” trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 “Sạn” trong sách giáo khoa: nhặt ngay kẻo hỏng học sinh! Thổi xôi là gì? Ông Tùng đã trả lời chi tiết về những “hạt sạn” mà độc giả “nhặt” ra trên các số báo ngày 11-10 và 14-10.
Khi nhận ra bất cập này, Bộ GD-ĐT đã yêu cầu chỉnh lý cuốn học vần trên. Tỉ dụ được dẫn ra ở trang 87: “Buổi trưa, Cừu chạy theo mẹ ra bờ suối. Lý do: Cừu là số ít, được hiểu là tên một nhân vật. Viết như thế rất dễ khiến học sinh nhầm “Sên” là tên người, giả dụ không nhìn bức tranh minh họa ở trên. “Thổi xôi” là gì? Theo tác giả bài báo là một số thầy và phụ huynh học trò không hiểu từ thổi, cần phải biểu thị là nấu cơm, nấu xôi.
Các em chưa có khái niệm về chữ hoa thì không nên viết hoa, bởi nếu viết hoa, các em chưa biết mẫu chữ sẽ không đọc được. Hươu nai là số nhiều “bầy hươu nai”, với nghĩa chỉ giống loài, nên không viết hoa. Ban biên tập giải đáp sách viết như vậy là hợp lý. 4. Từ điển Tiếng Việt 2010 của Hoàng Phê (NXB Đà Nẵng) trang 1223 có viết: “Thổi: Động từ [ph] nấu [cơm, xôi]. Thêm nữa, để hiểu nội dung câu văn này, học trò đã có tranh minh họa màu, rất rõ nét ngay ở bên trên câu văn.
Khổ cuối của bài thơ được in là “Bay cao cao vút/ Chim biến mất rồi/ Chỉ còn tiếng hót/ Làm xanh da trời”. Mà đã học thuộc lòng thì trẻ không thể nào biết chữ được
TRẦN VĂN TÁM ( Trường TH Trung Lập Hạ, Củ Chi, TP. 2. Trang cuối sách người biên soạn có ghi chú điều ấy với thuộc tính xin phép các nhà văn, nhà thơ như sau: “Sách giáo khoa Tiếng Việt 1, tập 1 đã trích nguyên văn hoặc có biên tập cho phù hợp với yêu cầu từng loại bài học - tác phẩm của các tác giả sau đây: Võ Thanh An, Hoàng Minh Châu, Định Hải, Xuân Hoài, Phạm Hổ, Ngô Văn Phú, Đỗ Trung Quân, Bế Kiến Quốc, Nguyễn Hoàng Sơn, Trần Hồng Thắng, Lê Xuân Thọ, Tạ Hữu Yên.
Cuốn học vần này đưa vào những ngữ liệu hay, như câu thơ “Long lanh đáy nước in trời” (Truyện Kiều) nhưng do trẻ chưa được học âm vần trong câu thơ nên chỉ học thuộc theo tranh. 5. Cuốn sách học vần chỉnh lý do tác giả Trịnh Mạnh và Trần Mạnh Hưởng đã khắc phục được những bất cập trên và cuốn này được dùng cho tới khi ta thay chương trình - sách giáo khoa mới.
Thứ này cũng có tranh minh họa rất rõ nét. Bài báo cho rằng các em học trò chưa có nhiều khái niệm về cuộc sống xung quanh nhưng nội dung lại được đánh đố bằng những câu chữ như “Nhà Dế Mèn ở gần bãi cỏ non, còn nhà Sên thì ở ngay trên tàu lá chuối”. Thí dụ như “Phố có phở”. Vì mục đích của sách học vần là dạy trẻ học đọc, viết chữ. Trong khi đó, câu thơ đúng là “Bay cao bay vút” (từ “bay” chứ không phải “cao”).
Trân trọng cảm ơn các tác giả”. Cụ thể như sau: 1. ”. Câu thơ của nhà thơ Đỗ Trung Quân, chữ “Tuổi thơ” trong nguyên tác được sửa thành chữ “Chiều chiều” như văn bản in trong sách giáo khoa Tiếng Việt 1, là do câu thơ đã được “biên tập” lại cho phù hợp với nội dung bài học. Nó thấy bầy hươu nai đã ở đấy rồi.
VĨNH HÀ ghi * TS Lê Hữu Tỉnh ( nguyên phó tổng biên tập NXB Giáo Dục ): Cần tuân thủ quy ước sư phạm Người dự biên soạn sách học vần cho trẻ em đều phải biết khi đưa ngữ liệu vào sách học vần thì phải tuân quy ước sư phạm là chỉ đưa những ngữ liệu có âm vần mà trẻ đã được học, theo trật tự từ dễ đến khó.
Ban biên tập có ý kiến: thổi là một động từ rất thân thuộc với người VN. 6. Ví dụ nữa, tác giả bài báo nêu trang 115 “Trai gái bản mường cùng vui vào hội”. Về thứ “y tế xã”, theo tác giả bài báo là chưa đủ thành phần cần phải viết đủ là “trạm y tế xã”, ban biên tập đã kiểm tra và thấy rằng: Dù cụm từ có bị lược bỏ thành phần, nhưng theo cách nói thông dụng, học sinh vẫn có thể hiểu được.
Lại sách Tiếng Việt lớp 1. 3.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét